Trang chủ Blog Da liễu
Vảy nến giọt và Hồng ban vảy phấn
Blog 19 tháng 1, 2025

Vảy nến giọt và Hồng ban vảy phấn

Bác sĩ Yeonseung Choe
Bác sĩ Yeonseung Choe
Bác Sĩ Trưởng

Dù trong khoa Tâm thần kinh cũng phân loại các chẩn đoán theo các mô hình triệu chứng đa dạng, nhưng trên thực tế lâm sàng, chúng tôi thường gặp nhiều trường hợp các triệu chứng xen kẽ nhau, bao gồm lo âu, trầm cảm, và các rối loạn giấc ngủ như mất ngủ. Cũng có những trường hợp rối loạn hoảng sợ được chẩn đoán quá dễ dàng hơn so với suy nghĩ. Không ít bệnh nhân đến khám sau khi nghe những câu chuyện kiểu như 'rối loạn hoảng sợ', 'triệu chứng ban đầu', 'có vẻ như vậy'.

Những bệnh nhân đã đi qua nhiều phòng khám tâm thần kinh thường dùng kết hợp SSRI, thuốc an thần nhóm benzodiazepine, và vài loại z-drug. Các bệnh nhân chúng tôi thường gặp đều như vậy. Vì thế, đôi khi tôi cũng tự hỏi chẩn đoán có ý nghĩa gì nữa.

Có vẻ như bệnh da liễu cũng tương tự. Có trường hợp đến phòng khám da liễu mà không nhận được giải thích rõ ràng, chỉ được kê thuốc hoặc thuốc mỡ rồi về. Họ được cho kháng histamine, steroid, hoặc kháng sinh, thuốc kháng nấm trong giới hạn đó, nếu đỡ thì may mắn, còn nếu không đỡ thì bệnh nhân cứ đi từ bệnh viện này sang bệnh viện khác, khiến các triệu chứng trở nên phức tạp hơn.

Bệnh viêm da vảy nến dạng sẩn

Bệnh viêm da vảy nến dạng sẩn (Papulosquamous diseases) được đặc trưng bởi sẩn và mảng vảy. Đây là một thuật ngữ bao gồm nhiều bệnh lý đa dạng có sự xuất hiện của sẩn (papule) và vảy (scale).

Theo nghiên cứu, sự khác biệt giữa chẩn đoán lâm sàng dự kiến (presumptive clinical diagnosis) và kết quả sinh thiết trong các bệnh viêm da vảy nến dạng sẩn thì nhiều hơn đáng kể so với suy nghĩ. Do đó, khi cần thiết, việc tìm hiểu thêm về chẩn đoán thông qua sinh thiết cũng là điều cần thiết.

Faraz, A., Dharamshi, H. A., Zahir, N., Saleem, A., & Ullah, S. (2015). Role of skin biopsy in papulosquamous lesions—a comparative study. Comparative Clinical Pathology, 24(5), 1205–1209. doi:10.1007/s00580-015-2061-8

So sánh bệnh vảy nến và hồng ban vảy phấn

Có khá nhiều nghiên cứu so sánh các bệnh viêm da vảy nến dạng sẩn điển hình như vảy nến (psoriasis), hồng ban vảy phấn (pityriasis rosea), lichen phẳng (lichen planus). Chúng ta hãy nói về việc phân biệt vảy nến thể giọt (Guttate psoriasis) với hồng ban vảy phấn (pityriasis rosea).

Vảy nến thể giọt

Các đặc điểm của vảy nến thể giọt như sau: là một đợt phát ban cấp tính, đối xứng hai bên, gồm nhiều sẩn hình tròn hoặc bầu dục, đường kính từ 1mm đến 10mm, có ranh giới rõ ràng, màu hồng cá hồi đến đỏ. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở thân mình và các chi gần sau nhiễm trùng liên cầu khuẩn (streptococcal infection).

Vì thế, nếu các tổn thương dạng sẩn có vảy xuất hiện vài ngày sau khi mắc viêm họng, nhiễm trùng đường hô hấp trên, viêm amidan, thì có khả năng là vảy nến thể giọt. Bạn nên chú ý xem bệnh nhân có nói rằng họ bị đau họng do cảm lạnh trước khi có triệu chứng da liễu hay không.

Hồng ban vảy phấn

Hồng ban vảy phấn được biết đến là một phản ứng của da đối với virus herpes. Trước khi xuất hiện phản ứng da toàn thân, một dạng đặc trưng gọi là herald patch (sẩn báo hiệu) sẽ xuất hiện trước, sau đó là các tổn thương ở vùng thân mình có hình dạng cây thông Noel.

Drago, F., Broccolo, F., & Rebora, A. (2009). Pityriasis rosea: An update with a critical appraisal of its possible herpesviral etiology. Journal of the American Academy of Dermatology, 61(2), 303–318. doi:10.1016/j.jaad.2008.07.045

Nhìn như vậy thì có vẻ dễ phân biệt hồng ban vảy phấn và vảy nến thể giọt. Tuy nhiên, hồng ban vảy phấn cũng có nhiều biểu hiện không điển hình, và nếu không nhìn kỹ và phóng đại vùng tổn thương, trên thực tế lâm sàng có vẻ dễ nhầm lẫn hơn suy nghĩ.

Chuh, A., Zawar, V., & Lee, A. (2005). Atypical presentations of pityriasis rosea: case presentations. Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology, 19(1), 120–126. doi:10.1111/j.1468-3083.2004.01105.x

Tức là, có những khía cạnh khó xác định bằng mắt thường, và trong những trường hợp gây nhầm lẫn, tốt hơn hết là nên sử dụng sự hỗ trợ của kính hiển vi da liễu (dermatoscope) hoặc sinh thiết.

Bạn có triệu chứng lo lắng?

Nhận tư vấn 1:1.

Bác sĩ Yeonseung Choe

Bác sĩ Yeonseung Choe Bác Sĩ Trưởng

Tôi đã gặp nhiều bệnh nhân tìm đến sau khi thăm khám tại nhiều cơ sở y tế và chuyên khoa vì bệnh kéo dài hoặc thường xuyên tái phát. Các triệu chứng như đau bụng, đau đầu, hồi hộp, chóng mặt và mất ngủ—vốn thường do những chuyên khoa khác nhau xử lý—đôi khi cùng xuất hiện ở một người. Dù đã dùng thuốc cho từng triệu chứng, tình trạng vẫn có thể không cải thiện rõ rệt và việc sống chung với khó chịu dần trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày. Trong những trường hợp này, tôi không chỉ nhìn vào từng chẩn đoán riêng lẻ mà còn xem xét các triệu chứng liên hệ và thay đổi cùng nhau như thế nào. Chỉ hỏi về triệu chứng gây khó chịu nhất hiện tại sẽ khó nắm bắt được toàn bộ diễn tiến. Tôi tìm hiểu thời điểm cơ thể bắt đầu thay đổi và những biến chuyển xảy ra sau bệnh tật, phẫu thuật, sinh con hoặc sau khi bắt đầu hay ngừng dùng thuốc. Tôi cũng xem lại thay đổi về cân nặng, chế độ ăn và giấc ngủ, rồi sắp xếp theo thời gian những triệu chứng đã cải thiện sau điều trị trước đây và những triệu chứng vẫn còn. Kết quả xét nghiệm, chẩn đoán và quá trình điều trị trước đây là những thông tin cần thiết để hiểu tình trạng cơ thể hiện tại. Nghiên cứu lâm sàng của y học cổ truyền Hàn Quốc hiện đại, nghiên cứu sinh lý và bệnh lý của y học hiện đại, cùng những quan sát được ghi lại trong y thư cổ điển là các góc nhìn khác nhau về cùng một cơ thể. Thay vì đặt bệnh nhân vào một góc nhìn duy nhất, tôi cân nhắc phạm vi mà mỗi góc nhìn có thể giải thích và tìm những manh mối giúp kết nối các triệu chứng cùng quá trình điều trị trước đây vốn được xem xét riêng rẽ.

Xem thêm →

Bài viết liên quan